Như cánh chim ngóng trời lộng gió - Girly.vn

Như cánh chim ngóng trời lộng gió

Tâm sựTruyệnNhư cánh chim ngóng trời lộng gió
10:15:06 09/10/2017

Girly.vn -

Vẫn là giọng nói trầm trầm, nụ cười duyên và cách nói chuyện dí dỏm rất riêng. Trong cái cách Cha cầu nguyện đầy thành kính gợi tôi nhớ đến chàng trai năm nào với đôi mắt long lanh mê say. Vẫn là người đó, bóng dáng, gương mặt, mọi điều chân thực và rõ ràng dù đã trôi qua mười hai năm đăng đẵng. Thứ tình cảm rạo rực năm xưa được thay bằng một ánh nhìn trang trọng khi tôi ngước lên và chạm phải đôi mắt bình thản của anh. Hình như đã lâu lắm rồi kể từ ngày chúng tôi mười tám tuổi và bắt đầu biết mộng mơ.

5cm/s - Vận tốc của những điều tuyệt diệu

Tôi nhìn ra bầu trời giăng giăng mây trắng tháng mười, phía dưới chân tôi là vực sâu thăm thẳm và xung quanh núi dựng sừng sững như tường thành. Đỉnh núi này cao đến mức đưa tay ra người ta có cảm giác chạm được đến được nền trời xanh ngắt trước mặt. Tôi nhắm mắt nghe cái lạnh mơn man khắp da thịt và gió thổi lồng lộng từ bốn phía. Không gian tịch mịch của núi rừng trải ra một hồi ức xa xăm của rất nhiều năm trước, khi tôi chỉ mới là cô gái mười tám tuổi. Chúng tôi đứng trên đỉnh núi này và nhìn ra biển trời với mây trắng bồng bềnh ôm ấp núi. Đẹp, hoang sơ và huyền ảo lạ lùng. Có cánh chim lao vút lên giữa không trung, chao liệng và rồi mất hút vào thăm thẳm. Hoàng quay sang nhìn tôi:

– Anh cũng muốn như cánh chim ấy

Hoàng mỉm cười và dang hai cánh tay thật rộng như ôm cả núi rừng vào lòng. Tôi hỏi ngu ngơ:

– Sao anh lại thích vậy?

– Vì thuộc về bầu trời. Chúng ta đều thuộc về một điều gì đó, đúng không?

Anh nháy mắt, tinh nghịch và đáng yêu đến mức hai má tôi nóng ran cả lên. Hoàng bao giờ cũng trầm tư và chững chạc hơn mấy thằng con trai cùng tuổi. Tôi ngơ ngẩn trong nụ cười đầy nắng gió của anh. Hoàng có nụ cười và cách nói chuyện rất duyên. Anh hóm hỉnh, hay đùa nhưng mỗi khi bực bội thì cũng khó chịu ra mặt. Sau này khi nhìn anh đứng uy nghi trên cung thánh tôi vẫn cảm nhận được nét tính cách của chàng trai năm xưa.

Mãi đến bây giờ những cảm giác về anh vẫn vẹn nguyên và tinh khôi như vậy.

Con đường từ đỉnh núi xuống làng cheo leo với nhiều cây cỏ rậm rạp che kín lối đi. Hai bên đường có mấy khe nhỏ nước chảy róc rách nghe rất vui tai. Ngày còn nhỏ tôi vẫn lặn lội ra đây hái trái cây dại và bắt cá. Chúng tôi lớn lên ở một vùng cao nguyên hẻo lánh ở phía Tây dãy Trường Sơn. Núi rừng hùng vĩ bao nhiêu thì cuộc sống cũng khốn khó bấy nhiêu. Thiếu thốn, đói nghèo, không biết chữ là điều bình thường ở mảnh đất bốn bề mây che núi phủ này. May mắn thay, năm tôi và Hoàng lên mười tuổi thì có một đội tình nguyện về làng khai phá và giúp đỡ. Lớp học thêm buổi tối bắt đầu từ đó. Chúng tôi ê a những con chữ đầu tiên trên chiếc bảng màu đen lạ lẫm. Đôi mắt Hoàng lóng lánh niềm mê say khi quay sang nhìn tôi:

– Coi anh nè, giỏi ghê chưa

– Em viết đẹp hơn, nhìn đây nè…- tôi huých vai Hoàng cười khúc khích.

Hoàng hôn phủ lên làng những dải màu bình yên và dung dị. Ánh nắng le lói đầu đông tắt dần sau những tán cây rậm rạp um tùm. Tôi thả bộ chậm rãi trên con đường về nhà. Nhớ mùa đông nào đó chúng tôi ôm cặp táp bước bên cạnh nhau. Gió lùa vào tóc và hai tai lạnh buốt. Anh quay sang hỏi tôi:

– Đông đến rồi đấy. Em với mấy đứa nhỏ có áo chưa? – anh hỏi bằng giọng trầm ngâm

– Dạ có, áo mấy năm trước đó anh

– Rách cả rồi còn đâu. Lát anh mang sang cho nhé

– Thôi anh để dành mà mặc

– Anh con trai có lạnh bao nhiêu đâu, với lại ba mới mua cho anh áo mới mà

Tôi cười bẽn lẽn, hơi xấu hổ nhưng cũng vui vui. Nhà anh thuộc dạng khá giả trong làng. Nghe kể ba Hoàng không phải người ở núi này. Chẳng ai rõ ba anh quê quán ở đâu mà chỉ biết ông thường đi làm ăn xa, hai tuần hoặc một tháng mới ghé về một lần. Dù vậy cuộc sống ấm cúng của mẹ con anh khiến bao người trong làng ghen tỵ. Mấy đứa bạn chúng tôi thường xuýt xoa khi nhìn Hoàng mặc bộ quần áo mới hay đội chiếc mũ mua được ở thị trấn dưới chân núi. Hoàng không vì thế mà lên mặt vênh váo. Anh thân thiện, rộng lượng và đối xử tốt với tất cả mọi người. Những ngày rảnh rỗi Hoàng thường giúp đỡ bà con trong làng khiêng vác mấy đồ nặng. Lâu lâu lại phụ mấy chú sửa sang vườn tược, dọn đường hay lên rừng đốn củi. Mãi đến năm mười sáu tuổi thì khuôn mặt lấm lem bụi đất và mùi mồ hôi từ người anh bắt đầu quyện lấy tôi. Hoàng càng lớn lại càng đẹp trai. Đôi lúc tôi thấy mình lạc mất trong đôi mắt thăm thẳm như bầu trời và nụ cười trìu mến của anh. Hoàng thì vẫn vậy. Anh tốt bụng, thật thà và hiền hòa. Mỗi lần anh cười nói với mấy đứa con gái khác trong làng tim tôi đều có chút gì nhoi nhói. Cảm giác cứ thế lớn dần khiến tôi tự dằn vặt mình. Tôi đâm ra bực bội và cáu gắt vô cớ. Lúc Hoàng gặng hỏi tôi chẳng biết nói gì mà lầm lũi bỏ mặc anh ở đó. Lời định nói ra tôi cất đến tận bây giờ. Trong đêm tôi thường mường tượng ra nụ cười láu lỉnh và đôi bàn tay ấm áp. Tôi nhớ mấy câu đùa vu vơ hay lúc anh ngả đầu lên vai mình ngân nga một câu hát. Vậy nhưng đáy mắt Hoàng bao giờ cũng bình lặng và an yên. Cái ánh nhìn nhẹ nhàng, trong veo không một chút dao động mãi sau này tôi mới nhận ra.

Như cánh chim ngóng trời lộng gió

Những buổi chiều đầu đông mây bắt đầu tụ về và sương mù dày đặc bao phủ khắp nơi. Năm nào cũng vậy, chúng tôi í ới gọi nhau leo lên đỉnh núi dù đường dốc và rất khó đi. Tôi và Hoàng đứng đó nhìn ra đất trời bao la, mịt mờ phía trước. Bốn bề yên ắng chỉ có tiếng gió thổi và hơi thở của hai đứa. Thi thoảng có vài cánh chim chao liệng giữa những chóp núi giăng đầy mây. Chúng tôi đưa mắt dõi theo rồi bất chợt quay sang nhìn nhau. Mỗi người đều tự biết người kia đang đeo đuổi một ý nghĩ riêng.

Dưới hàng cây xanh mướt là con đường dẫn vào nhà anh. Nhà tôi cách nhà anh một quãng chừng hai ba mái nhà chen ở giữa. Tôi dừng xe trước căn nhà được xây khang trang và quét vôi màu xanh biển. Dì Bảy rót cho tôi ly nước chè nghi ngút khói, tự nhiên thấy ấm lòng giữa tiết trời lành lạnh tháng mười. Tôi nhìn cái đuôi mắt nhăn nheo đầy vết chân chim của dì. Chợt nhớ hình như Hoàng khoác ba lô theo đoàn tình nguyện cũng đã mười hai năm rồi. Hoàng đi được bốn năm thì ba anh mất.

– Lâu rồi mới thấy con về chơi. Dạo này công việc tốt không con?

– Dạ, công việc vẫn ổn ạ. Dì khỏe không? Con nghe nói Lin mới cưới chồng ạ?

– Ừ. Mà cô cũng lo lấy chồng đi, ba mươi rồi chứ nhỏ nhắn gì nữa

Tôi cười, trong đầu thoáng qua hình ảnh của nhiều năm trước khi dì xoa đầu tôi bảo: “Lớn nhanh còn về làm dâu nhà dì chứ”. Dì Bảy ngồi trầm ngâm một lúc rồi thở dài nhìn ra phía cổng:

– Ngày mai Cha Hoàng về thăm nhà đấy con ạ. Lâu lắm rồi nó mới lại về, không biết có ăn uống đầy đủ không…

– Dạ, đợt này Cha về chơi lâu không dì?

– Dì cũng chưa biết, chắc cũng vài ngày rồi đi lại như lần trước thôi

Dì vừa nói vừa mân mê mép áo. Khóe mắt khẽ rơm rớm:

– Ngày xưa bảo nó cứ lấy vợ sinh con như người ta, nó lại cứ một mực đi theo Cha Ninh. Bây giờ nó là con của Chúa, của giáo dân chứ có phải con của riêng mình đâu

Lẽ ra phải gọi mẹ của Cha là bà cố nhưng tôi lại ngượng miệng không gọi được. Thế là vẫn gọi dì giống ngày xưa khi chạy qua nhà Hoàng chơi. Tiếng khẽ dài len lén mà não nề khiến lòng không dưng nặng nề. Tôi nhìn quanh căn nhà vốn thiếu đi bàn tay cứng cáp của người đàn ông. Vườn cây dại mọc um tùm cao quá đầu người chẳng có ai sửa sang, dưới sàn có cái thau hứng nước từ chỗ dột trên mái nhà. Từ ngày ba Hoàng mất chỉ còn mỗi mẹ và cái Lin. Năm ngoái Lin lấy chồng về làng bên kia núi nên cũng vài tháng mới ghé về một lần. Dì Bảy sống thui thủi một mình, đôi lúc nhớ con không tránh khỏi rơi nước mắt. Tôi ra về mà lòng cứ man mác buồn, cảm giác ngột ngạt bủa vây như ngày đầu tiên nghe tin Hoàng rời núi.

Năm chúng tôi mười bảy tuổi có một đoàn tình nguyện về làng. Nổi bật trong đó là người đàn ông mặc áo chùng đen có dáng người cao và gương mặt hiền hậu. Chúng tôi vẫn gọi ông bằng Cha – Cha Ninh. Đó là người mang đức tin và thổi vào lòng người con của núi tình yêu mến với một điều khác thần thánh, thiêng liêng hơn. Chúng tôi cùng mọi người trong làng vẫn ngồi vòng tròn quanh Cha nghe đọc kinh thánh và giảng đạo. Khuôn mặt Hoàng ánh lên niềm say mê lóng lánh y hệt lần đầu tiên anh chạm đến con chữ. Tôi nhận ra sự háo hức đầy nhiệt thành trong đôi mắt vốn trong suốt, tĩnh mịch như làn nước. Chưa bao giờ anh nhìn tôi, hoặc nhìn bất kì ai bằng ánh mắt tha thiết nhường ấy.

Mọi người trong làng đều khen hai đứa đẹp đôi. Tôi bẽn lẽn cúi đầu còn Hoàng cười toe toét. Ngoài miệng thì giả vờ ngúng nguẩy nhưng trong lòng tôi cứ thầm tưởng tượng điều mọi người gán ghép là thật. Tôi thích mọi thứ từ anh. Đôi mắt, nụ cười, cách nói chuyện hóm hỉnh, cả cái tính cáu bẳn khi ai đó khiến anh bực bội. Hoàng có nét duyên cuốn hút kì lạ. Có lần nghe cái Lan tâm sự rằng nó thích anh như cách tôi vẫn thích. Tôi đâm ra lo lắng nhưng vẫn kể anh nghe. Hoàng cười cười:

– Gì chứ? Sao lại thích anh được?

– Sao không được, anh là con trai chứ có phải bê đê đâu? Hay anh…bị gì hả?

– Khùng vừa thôi – Hoàng lườm tôi

Vì thân thiết từ nhỏ nên khi đã trưởng thành mọi thứ vẫn không khác đi nhiều. Chúng tôi cả ngày quấn quýt bên nhau không chán: đi học, đi nhặt củi, trồng hoa… Lúc nào tôi cũng í ới gọi tên Hoàng còn anh đủng đỉnh đi phía trước. Thi thoảng anh đợi tôi nhưng cố tình quạu quọ: “Em đi chậm như rùa ấy”. Ước mơ cùng anh xây dựng một gia đình càng cháy bỏng khi tôi nhìn anh hì hụi xới mảnh đất trong vườn hay giúp mẹ bón phân cho mấy luống rau trước nhà. Ánh mắt dịu dàng, mê say và yên ả của anh cứ giày vò tim tôi. Có lần tôi hỏi:

– Anh yêu ai chưa?

– Ờ, dĩ nhiên là có chứ – Hoàng cười tươi rói

– Ai vậy? hèn chi dạo này em thấy anh vui cả ngày – Tôi hồi hộp nhìn anh mà hai tai nóng bừng

– Một người, em cũng biết, ở đây này

Hoàng vừa nói vừa đặt tay lên ngực trái rồi nháy mắt. Anh không nói thêm gì nhưng giây phút ấy tôi tin trái tim anh nhất định có một vị trí đặc biệt dành cho mình. Giấc mơ non nớt thuở mười tám được chôn chặt trong lòng và tôi đinh ninh ngày gặp lại chắc chắn sẽ sum vầy. Trong tôi vẫn luôn là đỉnh núi cao chót vót với bốn bề mây phủ bồng bềnh, là bầu trời xanh ngắt vời vợi tưởng như đưa tay ra là có thể chạm đến được. Có những đêm giật mình thảng thốt, tôi nhớ đôi cánh chim bay vút giữa núi rừng bạt ngàn và đôi mắt màu nâu êm ả như làn nước. Tôi nhớ Hoàng quay quắt.

Như cánh chim ngóng trời lộng gió

Suốt mười hai năm qua tôi không có cơ hội gặp lại Hoàng. Tôi theo vài anh chị trong đoàn tình nguyện xuống núi và được giới thiệu làm việc cho một người quen. Ngày chia tay anh ôm tôi trong lòng và yên lặng. Một khoảng không trống rỗng, mông lung khiến tim tôi đau buốt. Mãi khi xuống lưng chừng núi và ngước mắt nhìn lên tôi vẫn thấy bóng anh cô độc lọt thỏm giữa mây ngàn. Tôi vẫy tay và bóng anh cứ thế nhỏ xíu, tan biến dần. Cuộc sống dưới núi đầy lạ lẫm vô tình cuốn tôi đi. Ánh đèn điện, mấy quán cà phê xinh xắn, quần áo đẹp, trang sức lấp lánh… Tất cả mở ra trước mắt một niềm hân hoan tươi mới. Tôi đã nghĩ chính thị trấn phồn hoa này mới là nơi tôi thuộc về. Có những ngày tôi quên mất cái lạnh se sắt của núi, quên cả chàng trai dúi vào tay tôi chiếc áo bông to sụ và nụ cười ấm áp. Bốn tháng sau tôi về nhưng không còn gặp anh nữa. Mối duyên của chúng tôi dường như cũng kết thúc từ đó.

Hoàng theo Cha Ninh về phố học đạo. Dì Bảy nói anh đi được hai tuần thì tôi về. Dù cả nhà ngăn cản thế nào anh cũng không nghe. Cuốn kinh thánh cùng tràng hạt Cha tặng được Hoàng đặt trang trọng trên kệ sách. Anh đi mà không mang theo gì ngoài mấy bộ quần áo cùng đồ dùng lặt vặt. Tôi nghĩ đến lúc hai đứa ngồi cạnh nhau trên đỉnh núi, anh thường mân mê tràng hạt và nhìn xa xăm về nơi nào đó. Hoàng nói về Cha Ninh, về Chúa bằng cái giọng thân thương mà một con chiên non nớt như tôi không thể nào cảm nhận được. Cái tính cách điềm đạm, đôi mắt bình lặng và trong trẻo như làn nước khiến tôi nhận ra anh không thuộc về nơi này và cũng không thuộc về bất kỳ ai. Anh chỉ thuộc về bầu trời mà anh chọn.

Có mấy lần anh về thăm núi và ghé nhà tôi chơi nhưng tôi đều không có ở đó. Cuộc sống tấp nập ở thị thành quay cuồng lấy tôi. Tôi đi học, đi làm, thi thoảng lại đi cùng đoàn tình nguyện đến thăm những miền quê hẻo lánh như vùng núi chúng tôi sinh ra. Tôi nghĩ đến Hoàng và càng cố gắng sống một cuộc đời ý nghĩa hơn. Thế giới với mớ màu sắc vừa lung linh lại vừa chói lòa khiến người ta đôi khi thấy cô đơn. Tôi cũng thử quen vài người con trai, cũng yêu đương và chia tay nhưng bao giờ tim cũng trống rỗng. Cảm giác buốt nhói khi nhìn bóng anh tan biến dần hay giây phút nghe tin anh rời núi theo tiếng Chúa gọi là những xúc cảm đau đớn mà không bao giờ tôi tìm lại được. Dù cố thế nào tôi vẫn không thể yêu ai như cách tôi đã dành cho anh.Tôi nhớ từng nghe ai đó kể, trên đời vốn có những người đàn bà nặng tình và dại khờ như vậy. Tôi vẫn hỏi thăm tin tức về anh như thói quen và niềm vui nho nhỏ. Hoàng đối với tôi là mối tình đầu vẹn nguyên chưa một lần nguôi ngoai, là mảng màu tươi sáng nhất trên bức tranh cuộc đời mà tôi có.

Tôi bước vào hàng ghế cuối cùng và ngồi vào một góc sát bên tường. Nhà thờ làng chúng tôi được xây cách đây chừng ba năm nên vẫn còn sơ sài, giáo dân cũng khá ít. Ngồi ở đây tôi dễ dàng nhìn được toàn bộ khung cảnh trên cung thánh và người linh mục mặc áo chùng trắng uy nghi. Vẫn là giọng nói trầm trầm, nụ cười duyên và cách nói chuyện dí dỏm rất riêng. Trong cái cách Cha cầu nguyện đầy thành kính gợi tôi nhớ đến chàng trai năm nào với đôi mắt long lanh mê say. Vẫn là người đó, bóng dáng, gương mặt, mọi điều chân thực và rõ ràng dù đã trôi qua mười hai năm đăng đẵng. Thứ tình cảm rạo rực năm xưa được thay bằng một ánh nhìn trang trọng khi tôi ngước lên và chạm phải đôi mắt bình thản của anh. Hình như đã lâu lắm rồi kể từ ngày chúng tôi mười tám tuổi và bắt đầu biết mộng mơ. Năm ấy Hoàng dang hai cánh tay ôm cả bầu trời vào lòng:

– Chúng ta đều thuộc về một điều gì đó

Đến bây giờ tôi mới nhận ra chúng ta – không chỉ riêng anh và tôi – đều thuộc về một điều gì đó mà mỗi người tin tưởng. Anh thuộc về một chân trời thánh thiện, bao dung trong khi tôi thuộc về vùng trời kỷ niệm của hai đứa. Chúng ta theo đuổi những điều mình mơ ước, đôi khi cố chấp và mông muội. Như Hoàng khi dứt áo ra đi bỏ lại gia đình, như tôi trôi qua bao năm tháng vẫn ôm ấp giấc mơ ngày xưa dù biết chẳng hề có chút hy vọng nào. Chúng ta giống như những cánh chim khát khao bay lượn giữa bầu trời lộng gió. Dù đau đớn, mệt mỏi, mất mát nhưng vẫn không ngừng tìm kiếm và dấn thân. Mãi mãi và luôn luôn như thế.

Tôi đứng trên đỉnh núi cao chót vót và lắng nghe gió thổi lồng lộng từ bốn phía. Dưới chân tôi là vực sâu thăm thẳm còn bên trên là nền trời xanh ngắt như gương. Tôi dang hai tay như cách trước đây anh từng làm, chợt nghe gió lùa vào lồng ngực lạnh buốt. Đâu đó có đôi cánh chim chao liệng, bất chợt lao vút lên cao rồi mất hút vào ngàn mây. Tôi đặt tay lên trái tim mình, ở đó vẫn còn thổn thức những điều chưa nói và mãi mãi không thể nào nói ra. 

Gió thổi càng lúc càng lạnh và mây kéo về phủ quanh đỉnh mịt mờ như cõi mộng. Phía dưới chân núi có bóng vài người lặng lẽ đi xuống, nổi bật trong đó là người đàn ông mặc áo chùng đen bình thản và thanh cao như pho tượng. Tôi mường tượng ra đôi mắt màu nâu yên ả đang ngước nhìn lên và đưa tay vẫy chào. Bất giác tôi mỉm cười.

Giao Yên Theo Girly.vn

Ảnh egghung0510

Giới thiệu về tác giả:

Giao Yên

"Tôi không phải là người kiên nhẫn nhặt những mảnh vỡ, gắn lại và tự nhủ rằng một vật chắp vá vẫn còn như mới. Cái gì đã tan vỡ là tan vỡ… Và tôi thà nhớ lại khi nó đẹp nhất, còn hơn là chắp vá để rồi suốt đời cứ phải thấy những vết nứt của nó"

Xem với phiên bản máy tính
Lên đầu trang
CLOSE
CLOSE
Loading...