Dây thường xuân ngát xanh – Phần 1

Tâm sựTruyệnDây thường xuân ngát xanh – Phần 1
11:17:55 07/01/2017

Girly.vn -

Đoàn tàu cuối cùng đã ghé qua. Đăng đang gà gật nghe âm thanh từ xa dội lại bỗng giật mình tỉnh ngủ hẳn. Ánh sáng của từng toa tàu chiếu bừng cả con phố nghèo nàn và ẩm thấp. Qua cửa kính trong suốt, người người chen chúc. Có lẽ không ai biết kể cả ba mẹ tôi và Đăng, tôi ước được một lần đi tàu lửa, dựa đầu vào cửa sổ và nghe nhạc hay đọc một cuốn tiểu thuyết của Gabriel Garcia Marquez. Sẽ thú vị biết bao… Đoàn tàu xa dần, xa dần khuất vào bóng đêm. Lặng yên. Chỉ còn nghe gió từ ngoài đồng vọng lại.

Dây thường xuân ngát xanh - Phần 1

Hồi bé tôi ước mơ trở thành nghệ sĩ dương cầm nổi tiếng, được đứng trên sân khấu biểu diễn trước đám đông để nhận được những tràng pháo tay nồng nhiệt, những lời khen ngợi và những bó hoa tươi thắm từ phía khán giả. Còn bây giờ tôi chỉ ước muốn có được một cây đàn piano để dạo chơi vào những ngày có gió.

Tuổi thơ tôi hoàn hảo như ánh trăng cổ tích.

Trưởng thành, cuộc đời tôi lại chông chênh và lắm ưu phiền.

Mọi chuyện bắt đầu từ khi ba tôi gặp tai nạn thảm khốc ở cầu vượt và qua đời. Đăng-em trai tôi may mắn sống sót nhưng phải ngồi xe lăn suốt đời. Mẹ tôi đau đớn đến tuyệt vọng, bà cho rằng chính Đăng là người gây ra cái chết cho chồng mình. Nếu hôm ấy không phải sinh nhật Đăng, nếu ba tôi không chở em ấy đi chọn quà sinh nhật thì có lẽ chuyện tang thương sẽ không xảy ra. Vì oán hận, mẹ trút hết tức giận lên Đăng rồi một đêm nọ mưa gió bão bùng, mẹ cuốn gói ra đi. Bốn năm qua, bà không hề về thăm chị em tôi dù chỉ lần. Tôi cũng không biết bà giờ sống ra sao.

Chị em tôi sống nương tựa vào nhau. Mười tám tuổi, tôi nào đâu biết đến quần áo đẹp, điện thoại và những khu mua sắm hạng sang, chỉ quanh quẩn với cái gian hàng của mình và mong mỏi một ngày nào đó mẹ suy nghĩ lại mà trở về bên chị em tôi. Giống như bao lứa tuổi thiếu niên khác, tôi cũng có ước mơ, hoài bão, tôi muốn có một ngôi nhà bên bờ biển, hàng rào trồng một loại cây toàn là lá màu xanh, không hoa, tôi muốn có một chiếc đầm màu hồng phấn bằng nhung, tay có viền ren và một đôi hài lấp lánh kim tuyến, tôi sẽ mặc tất cả lên người sau đó trình diễn Winter Sonata của Richard Clayderman… nhưng ước muốn cũng chỉ là ước muốn. Tình yêu với tôi càng xa tầm tay. Nhưng tôi có quyền hy vọng dẫu cho điều hy vọng ấy quá nhỏ nhoi.

Đăng bị gãy cả hai chân, suốt ngày chỉ ngồi một chỗ trên xe lăn. Sinh hoạt hằng ngày tôi đều làm giúp em. Đăng hay ngồi thẩn thờ bên khung cửa sổ với gương mặt đờ đẫn. Trên tay em là xấp giấy trắng tinh với một cây bút chì. Em vẽ ngôi nhà có bốn người sống hòa thuận với nhau. Đó là gia đình tôi trước kia. Tôi nhìn kỹ, thấy rằng ngôi nhà trong tranh có dây thường xuân quấn quanh hàng rào. Tôi hỏi sao lại là thường xuân mà không phải một loài hoa khác. Đăng trả lời. “Vì thường xuân đem lại may mắn và bình an. Em tin rồi mẹ sẽ về dù cho mẹ không cần chị em mình nữa thì em cũng mong ở bất cứ nơi đâu mẹ sẽ luôn bình an.”

Tôi quay mặt đi, giấu đôi mắt lệ nhòa. Đăng lay vai tôi. “Mẹ sẽ về đúng không chị?”

Tôi quay lại, mỉm cười. “Dĩ nhiên rồi, mẹ sẽ về, mẹ không bao giờ bỏ rơi hai chị em mình đâu, một ngày nào đó, không xa…” Khi nói những lời an ủi em trai, tôi không chắc mẹ có về hay không. Lòng tôi hoang mang quá thể.

Nhà tôi ở cạnh đường ray xe lửa, ngày ngày đều nghe âm thanh xình xịch của tàu hỏa. Hai chị em tôi đều thích ngắm nhìn tàu chạy qua, những toa tàu nối dài, tưởng chừng như vô tận. Chẳng hiểu tại sao nữa nhưng cả tôi và Đăng luôn mong chờ thời khắc đoàn tàu đến. Chỉ cần nghe âm vang từ xa và đầu ống khói đen sì hiện ra, Đăng nhướn cổ nhìn, vẻ mặt háo hức. Khi tàu chạy ngang qua gian hàng, Đăng nhìn chăm chú và cửa sổ của từng toa đến khi tàu mất hút, để lại làn khói mịt mù, cậu nhóc cúi mặt, tỏ vẻ thất vọng. Tôi hiểu, em đợi mẹ. Em cố nhìn vì muốn xem thử trong số những hành khách trên tàu ấy có mẹ hay không. Đăng chỉ mới mười một, vẫn chưa đủ lớn để có thể sống tự lập vậy mà mẹ lại nỡ bỏ chúng tôi đi. Nhiều lần tôi muốn hét lên, muốn giải thích với mẹ rằng tai nạn xảy ra ngoài ý muốn, Đăng không có lỗi trong chuyện ba mất cả nhưng mỗi lần tôi muốn cất lời, cổ họng lại nghẹn cứng. Tôi cứ mãi im lặng, mẹ càng oán giận Đăng. Đến một ngày mẹ không chịu được và ra đi. Nhiều đêm trong giấc mơ, Đăng luôn ú ớ gọi mẹ, tôi vỗ lưng em, nói rằng. “Mẹ ở đây.” để em ngủ được yên giấc.

Như thường lệ, tầm khoảng năm giờ, tôi đẩy xe lăn có Đăng ngồi trên đó ra chỗ sạp hàng, vừa buôn bán vừa đợi tàu chạy qua. Tôi ngồi trên chiếc ghế con cầm quạt phe phẩy đám ruồi muỗi đang vo ve bên cạnh. Sạp hàng này là của mẹ tôi, từ khi mẹ đi tôi vẫn thay bà bán, kiếm sống qua ngày.

Dây thường xuân ngát xanh - Phần 1

Chiều êm ả trôi. Mặt trời như quả cầu lửa khổng lồ bừng cháy ở phía tây. Những đám mây chừng như biến sang màu đỏ gạch, thấp thoáng sau ngọn dừa cao vút. Gió len lỏi qua những khóm hoa dại mọc ngáng đầy lối đi. Cơ hồ không còn nghe thấy bất kỳ âm thanh nào nữa ngoài tiếng lá rơi lạo xạo. Vài đứa trẻ chơi oẳn tù tì một góc tường loang lổ, nhuốm màu rêu phong. Ngày tàn, đêm xuống, chẳng hiểu sao tôi lại thấy lòng buồn man mác vào cái thời khắc này.

Kế nhà tôi là quán phở của bà Hai. Mọi ngày, vào giờ này tôi luôn nghe thấy tiếng kéo bàn kéo ghế của hai vợ chồng bà. Nhưng chiều nay cánh cửa bằng nhôm đóng im ỉm. Có lẽ bà dọn muộn chăng?

Xóm tôi thường xuyên cúp điện cho dù có điện đi chăng nữa thì trời vẫn tối đen như mực. Ngọn đèn đầu ngõ bị hỏng từ lâu mà chẳng có ai chịu tới sửa thành thử xóm luôn chìm trong bóng tối. Mùa đông sắp đến, gió thổi rất lạnh và mặt trời lặng xuống rất nhanh. Chỉ mới năm rưỡi hơn mà cảnh vật lờ mờ. Tôi vào nhà châm dầu vào lửa rồi đem ra đặt giữa sạp hàng. Đăng ngồi bên cạnh hí hoáy vẽ tranh dưới ngọn đèn dầu tù mù. Tôi đi ra phố, nhìn quanh quất, chẳng có lấy một bóng người đi bộ nào, thi thoảng vài chiếc xe máy phóng nhanh khiến cát bụi tung mịt trời.

Cửa sổ nhà ai để hé, đèn hắt ra chiếu xuống mặt đất. Nhờ có tia sáng ấy mà những viên sỏi trên con đường gồ ghề như pha lê lấp lánh. Nhưng tôi vẫn thích ánh sáng của đoàn tàu hỏa hơn. Trăng lên, khuyết một nửa. Tôi về lại sạp hàng, nghe tiếng cót két của nhà kế bên. Bà Hai phở mở cửa dọn hàng cùng đứa cháu nhỏ. “Bà dọn trễ thế ạ?” Tôi góp một câu.

“Ừ, ông nhà bị trật khớp, đau nhức mỏi cả ngày, bà phải lo cơm nước xong xuôi mới yên tâm buôn bán.” Bà nói, giọng bà xen lẫn tiếng thở dài.

Đứa cháu của bà cỡ tuổi của Đăng, lầm lì, ít nói. Ai hỏi gì nó cũng nín thinh. Tôi không thấy ba mẹ của nó, chỉ thấy nó suốt ngày quanh quẩn bên bà ngoại, bưng bê, rửa bát. Có lần tôi hỏi ước mơ của nó là gì, nó bảo nó không có ước mơ cũng chẳng muốn đi học trở lại. Nó chỉ muốn sống cùng ông bà ngoại bầu bạn sớm tối để họ bớt cô đơn. Nó chỉ muốn phụ ông bà ngoại bán phở để họ đỡ vất vả. Tôi nghe mà cảm động, suýt rơi nước mắt.

“Mẹ cháu vẫn chưa về à?” Bà Hai nhấc nồi nước lèo lên lò, hỏi tôi.

“Vâng ạ.”

“Cũng hơn bốn năm rồi nhỉ, tội nghiệp còn nhỏ vậy mà phải bươn chải.” Bà Hai phở lẩm bẩm một mình nhưng tôi nghĩ bà đang nói đến hai chị em tôi. Vì chuyện của gia đình tôi, cả xóm ai cũng biết.

Trời trở gió, tôi quay sang khoác áo ấm lên người Đăng, dặn em không nên vẽ trong bóng tối rất dễ bị cận thị. Đăng ngước lên hỏi tôi. “Sao tàu lâu đến vậy chị?”

“Chắc có lẽ tàu đến muộn, em ngủ đi khi nào tàu đến chị sẽ gọi em dậy.”

“Giờ này mà ngủ gì chị.” Đăng ngáp một cái, hành động phản bội lại lời em nói. Cậu nhóc cười xòa.

Một đôi tình nhân bước vào quán phở kế đến là một gia đình cũng có vài người đơn chiếc. Tiếng kéo ghế lạch cạch. Tôi để ý thấy hôm nay quán khá đông. Ai ăn xong về đều tấm tắc khen ngon. Khách ra khách vào nườm nượp. Đó là nghề truyền thống của vợ chồng bà Hai mấy chục năm nay. Từ khi gia đình tôi chuyển tới cái xóm này, tôi đã thấy quán phở của bà, dù mưa gió hay nắng cháy vợ chồng bà cùng với đứa cháu nhỏ vẫn luôn tất bật công việc quen thuộc mỗi ngày. Ngoài ra còn có quán bún riêu, tiệm tàu hủ, quán cơm bình dân… nằm rải rác từ đầu xóm đến cuối xóm nhưng mỗi quán phở là đông khách.

“Buôn bán được không cháu?” Bà Hai vặn to ngọn đèn dầu, hỏi tôi.

“Tạm ổn, thưa bà.” Tôi trả lời nhạt thếch. Thùng gạo sắp hết, tôi đang lo lắng không biết ngày mai ngày mốt lấy tiền đâu mua rau, mua cá cho nhóc em.

Khách đã vãn. Người đi ngoài phố thưa dần. Bóng trăng ngủ vùi trong các đám mây. Nhà nhà đồng loạt tắt đèn, chỉ trừ một vài cửa hàng hoạt động suốt đêm. Vợ chồng bà Hai cùng đứa chau đang lui cui dọn hàng vào. Tôi ngẩn ngơ nhìn vòm trời sao lung linh, bồi hồi nhớ lại những ngày ở trên thành phố được ba dẫn đi ăn kem, đến các khu vui chơi náo nhiệt. Những ngày ấy sao mà vui tươi, tinh khôi đến thế. Càng nhớ kỉ niệm càng rõ rệt hơn bao giờ hết.

Đoàn tàu cuối cùng đã ghé qua. Đăng đang gà gật nghe âm thanh từ xa dội lại bỗng giật mình tỉnh ngủ hẳn. Ánh sáng của từng toa tàu chiếu bừng cả con phố nghèo nàn và ẩm thấp. Qua cửa kính trong suốt, người người chen chúc. Có lẽ không ai biết kể cả ba mẹ tôi và Đăng, tôi ước được một lần đi tàu lửa, dựa đầu vào cửa sổ và nghe nhạc hay đọc một cuốn tiểu thuyết của Gabriel Garcia Marquez. Sẽ thú vị biết bao… Đoàn tàu xa dần, xa dần khuất vào bóng đêm. Lặng yên. Chỉ còn nghe gió từ ngoài đồng vọng lại.

“Chắc giờ này không còn ai mua đâu chị, mình đóng cửa đi.”

Tôi nhìn dáo dác một hồi rồi kéo cửa xuống, Thế là tàn một ngày. Nhưng sao trên trời vẫn nhấp nháy. Xóm trọ chưa bao giờ náo động, chắc do cái đói nên mọi người cứ lầm lũi đi về.

Dây thường xuân ngát xanh - Phần 1

Cho đến một hôm, xóm vắng hoe nơi tôi ở bỗng trở nên náo loạn. Trời cũng đã chập tối. Và tôi đang ngồi nướng khoai ngay cạnh cây me già cỗi. Tiếng nổ lép bép, ngọn lửa đỏ rực bùng cháy khiến không gian thêm ấm cúng. Bỗng nhiên một thanh niên chạy xộc vào nhà tôi rồi chui tọt xuống dưới gầm bàn. Tôi trố mắt, há mồm chưa kịp phản ứng gì thì anh ta đưa một ngón tay lên môi khẽ suỵt, như muốn bảo tôi hãy giữ im lặng.

“Nó đâu, nó đâu rồi, mẹ kiếp tao mà tìm được tao đánh gãy giò.”

Tôi ngoảnh đầu về phía vừa phát ra tiếng nói oang oang, giọng cay nghiệt. Ba bốn người đàn ông mặt mũi bặm trợn, thuốc lá phì phèo đang ngó quanh quất như tìm ai đó, miệng không ngừng buông lời tục tĩu. Tôi liếc sang anh rồi nhìn đám du côn ấy hiểu ngay vấn đề. Tiếp tục nướng khoai, dặn nhóc em đừng nói gì cả.

Một trong số đó tiến lại sạp hàng của tôi và hỏi. “Này, em gái có thấy một thằng con trai chừng hai mốt, hai hai tuổi chạy qua đây không?”

“Dạ, không ạ!” Tôi trưng ra vẻ mặt ngây thơ, bình thản nói nhưng trong bụng lại lo sợ đến thót tim. Nếu bọn chúng không tin, xông vào nhà tôi khám xét thì chị em tôi sẽ bị vạ lây nhưng giúp người phải giúp cho trót. Tôi tỏ vẻ như không có chuyện gì xảy ra, đưa một củ khoai mới nướng xong cho Đăng.

Đến khi bọn lưu manh kia biến mất, tôi trông rõ bọn chúng rẽ hướng khác mới thở phù một hơi, nhẹ cả người. Anh chàng được tôi cứu thoát chui ra khỏi gầm bàn, rối rít cảm ơn tôi nhưng tôi chẳng nghe được gì. Bóng đèn mờ mờ ảo ảo chiếu xuống gương mặt anh, vô cùng điển trai. Từng đường nét hoàn mỹ. Anh ấy cao thật, lông mày rậm, đôi môi mỏng và ánh mắt sâu thăm thẳm, có màu xanh như màu của đại dương. Nhưng trên gương mặt ấy lại có vô số vết bầm tím, vai áo anh rách một mảng lớn để lộ ra cánh tay in dấu những vệt đỏ dài loằng ngoằng. Anh quay lưng đi sau khi cảm ơn tôi một lần nữa. Chẳng biết điều gì giục giã, tôi gọi anh lại. “Khoan đã, anh…”

“Sao?” Anh xoay người lại, hàng lông mi vút cong chợt rung rinh.

Tôi như người vô hồn mãi đến khi nhóc em kéo vạt áo, tôi mới sực tỉnh, tuôn một tràng. “Anh ở lại đây hết đêm nay đi ạ, mặc dù em không hiểu lắm chuyện gì đang xảy ra nhưng chứng kiến cảnh vừa rồi em cũng nhận ra mấu chốt của vấn đề. Em nghĩ bọn chúng vẫn còn luẩn quẩn quanh đây, giờ nếu anh đi chắc có thể sẽ đụng độ bọn chúng với lại anh cũng đang bị thương.”

Nhắc tới vết thương, anh khẽ nhăn mặt. “Cũng đúng.”

“Anh chờ một lát.” Tôi nói rồi chạy vụt vô nhà, quay ra với chai dầu gió trên tay. Tôi bảo anh ngồi im để tôi xức vào những vết bầm. Tim tôi đập khá nhanh hy vọng là anh không nghe thấy vì khoảng cách tôi và anh có thể nói khá gần.

“Nhà chỉ có hai chị em thôi sao?” Anh ngó vô trong, hỏi.

“Vâng ạ!” Tôi đáp.

“Buồn chán lắm anh ạ, nếu có thêm người thì sẽ vui hơn.” Đăng nháy mắt tinh nghịch.

“Không sợ anh là kẻ xấu bắt cóc hai chị em à?”

“Nếu đã sợ thì lúc nãy em đã tố cáo anh cho bọn chúng biết rồi.” Tôi thản nhiên trả lời.

Đêm đó, anh ngủ ở ghế bành ngoài phòng khách. Quá nữa khuya mà sao tôi cứ trằn trọc mãi, không ngủ được. Nếu có mẹ tôi ở đây hẳn bà sẽ mắng xối xả vào mặt tôi là đồ cả tin và sau đó dùng chổi quét anh ra khỏi nhà vì mẹ tôi rất ghét những đứa chơi bời lêu lổng, tụ tập đàn đúm. Nhưng tận trong thâm tâm, tôi nghĩ anh là chàng trai lương thiện. Ý nghĩ thiện cảm ấy ru tôi vào giấc ngủ nhẹ nhàng.

Tên anh là Hoài. Từ năm sáu tuổi đến năm mười bảy tuổi, anh sống trong cô nhi viện. Trưởng thành, không muốn dựa dẫm vào các cô các dì trong trại, anh bước vào đời, va chạm nhiều thứ. Sau đó anh quen một nhóm người thuộc băng đảng xã hội đen. Họ nói anh sẽ được ăn sung mặc sướng nếu làm việc cho họ. Qua một thời gian, khi bàn tay anh nhuốm đầy tội lỗi, anh nhận thức được các việc mình làm từ trước đến giờ là sai trái. Anh muốn quay đầu, vào đúng thời điểm đó, tên cầm đầu kiên quyết không cho anh hoàn lương.

“Thế nên anh mới bị bọn chúng đuổi đánh?” Anh kể xong, tôi hỏi.

“Đúng vậy, ngẫm lại quãng thời gian vừa qua, anh thấy ân hận vô cùng.” Anh khẽ thở dài.

“Chẳng có gì là quá muộn nếu như anh từ bỏ những điều xấu xa và hướng đến chân-thiện-mỹ. Em tin cuộc đời sẽ không hắt hủi anh đâu.”

“Hắt hủi?” Anh tỏ vẻ kinh ngạc nhìn tôi rồi hạ thấp giọng. “Em nói đúng.”

“Xin lỗi, em nói hơi nặng lời.”

Hoài xoa đầu tôi, khẽ cười. Chúng tôi chuyển chủ đề. Anh thích uống trà gừng. Anh bảo vì nó có mùi cay. Vậy là chiều nào tôi cũng ra chợ mua gừng về pha trà cho anh. Về sau khi anh đi rồi, tôi thử uống trà gừng và nhận ra trà gừng cay thật. Nó luôn khiến tôi chảy nước mắt. Là nước mắt vì cay hay vì nhớ một người tôi cũng chẳng rõ.

Hoài ở lại nhà tôi chừng mười ngày. Khi tiết trời vào gữa đông và cái lạnh thấu xương rắc trên từng ngõ phố, anh quyết định rời đi. Tôi biết mình không thể giữ anh ở lại, đành cất giọng buồn bã. “Anh định đi đâu?”

“Anh cũng không biết nữa, anh sẽ đến bất cứ nơi nào có thể đến được và làm bất cứ công việc nào có thể làm được.”

“Anh sẽ lang bạt khắp nơi sao? Mùa đông đến rồi, sẽ lạnh đấy.”

Hoài đặt tay lên vai tôi, trấn an. “Đừng lo cho anh, hai chị em ở nhà giữ gìn sức khỏe nhé.”

Tôi không nói thêm gì nữa. Mắt anh đượm buồn. Tôi tiễn anh một đoạn, anh nói tôi về đi, đừng tiễn nữa. Tôi đứng lại, nhìn anh dần khuất xa. Bóng anh lững thững bước bên cạnh đường ray tàu lửa. Gió nổi lên, ào ào. Tóc anh bay phất phơ. Anh không ngoảnh đầu lại mà đưa tay lên vẫy. Lòng tôi se sắt. Nước mắt ứa ra. Có lẽ vì tôi…vì tôi đã… phải lòng anh mất rồi.

Thanh NguyênTheo Girly.vn

Ảnh internet, SamAlive

Xem với phiên bản máy tính
Lên đầu trang
CLOSE
CLOSE
Loading...